BUW8GSA9GUrpTSC8GSW5GpYp
Breaking
News

Độc Thân Trinh Khiết Vì Nước Trời

Font size
Print 0

Ngay từ đầu những suy tư của mình, Gioan Phaolô đã xem xét cuộc đối thoại giữa Đức Giêsu và những người Pharisêu về vấn đề ly dị. Giờ đây ngài quay lại chính đoạn Kinh Thánh này để kết thúc cuộc trao đổi:

Vì sự cứng lòng của anh em, ông Môsê đã cho phép anh em rẫy vợ; nhưng thuở ban đầu thì không có thế đâu. Bởi vậy, tôi nói cho anh em hay: ai rẫy vợ mình – trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp – mà cưới vợ khác, là phạm tội ngoại tình. (Mt 19:8–9)

Nghe thế, các môn đệ thốt lên một lời đáng kinh ngạc: “Nếu trường hợp của người nam đối với vợ là như vậy, thì thà đừng lấy vợ còn hơn.” (Mt 19:10). Nói cách khác: “Nếu không được ly dị thì thà đừng kết hôn còn hơn!”

Thay vì trách cứ lòng họ—có vẻ còn chai đá hơn cả người Pharisêu—hoặc tranh luận xem hôn nhân có “lợi” hay không, Đức Giêsu đáp lại:

“Không phải ai cũng hiểu được câu nói ấy, nhưng chỉ những ai được Thiên Chúa cho hiểu mới hiểu. Quả vậy, có những người không kết hôn vì từ khi lọt lòng mẹ, họ đã không có khả năng ; có những người không thể kết hôn vì bị người ta hoạn ; lại có những người tự ý không kết hôn vì Nước Trời. Ai hiểu được thì hiểu.” (Mt 19:11–12)

Hoạn nhân là những người nam không thể giao hợp do dị tật bẩm sinh hoặc do bị hoạn (thiến). Trong các nền văn hoá cổ, họ thường được dùng làm người hầu hoặc canh giữ cho hoàng hậu, vì buộc phải sống khiết tịnh. Tuy nhiên, Đức Giêsu nhắc đến một loại hoạn nhân thứ ba: những người tự nguyện chọn sự khiết tịnh “vì Nước Trời.” Đây hẳn là một ý niệm gây bối rối cho người Do Thái đương thời, vì họ không coi trọng đời sống độc thân. Hơn nữa, tại sao Đức Giêsu lại bắt đầu lời mời gọi sống khiết tịnh bằng những so sánh khó nghe đến thế?

Gioan Phaolô giải thích:

Đức Giêsu dường như chạm đến tất cả những bối cảnh này, như thể Người muốn nói: Ta biết rằng điều Ta sắp nói với các con sẽ gây nhiều khó khăn trong lương tâm và trong cách hiểu về ý nghĩa thân xác của các con; thực ra, Ta sẽ nói với các con về khiết tịnh, và chắc chắn điều này sẽ gợi lên trong các con sự thiếu hụt thể lý, bẩm sinh hay do con người gây ra. Trái lại, Ta muốn nói với các con rằng: khiết tịnh cũng có thể là tự nguyện và được chọn lựa bởi con người “vì Nước Trời.”230

Đức Giêsu giới thiệu cho các môn đệ một cách sống hoàn toàn mới mẻ, như một quà tặng cho tha nhân. Dù nhiều người có thể coi độc thân là trái với tự nhiên nhưng Đức Giêsu làm rõ: khi tự do chọn lựa vì Nước Trời, nó trở thành siêu nhiên.

Nhưng tại sao lại có người tự nguyện sống khiết tịnh? Chẳng phải chính Thiên Chúa đã phán: “Con người ở một mình thì không tốt” sao? Quả thật, không tốt để con người sống cô độc, nhưng chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể lấp đầy nỗi cô đơn của chúng ta. Ngay cả khi một người có vợ hay chồng, họ vẫn đơn độc trước mặt Thiên Chúa.

Những ai từ bỏ hôn nhân để bước vào đời sống linh mục hay tu trì không phải vì họ không có khao khát hiến thân cho người khác. Trái lại, chỉ có tình yêu mới giải thích được cả động lực lẫn phương thế cho cả hai bậc sống: hôn nhân và độc thân khiết tịnh. Cả hai đều bao hàm một quyết định triệt để: hiến ban chính mình để sống hiệp thông. Cả hai đều là kết quả của việc con người tự do đáp lại tình yêu. Và cả hai đều trở thành khả dĩ nhờ sự tự do của hiến tặng, đạt được qua việc làm chủ bản thân. Không phải là sống độc thân thì cần khổ chế, còn hôn nhân thì chỉ để xả bớt dục vọng. Ngược lại, cả hai ơn gọi đều đòi hỏi tiết dục, để một người có thể thực sự tự do hiến ban chính mình. Vì thế, cả hai đều mang bản chất hôn nhân.

Đức Giêsu chính là gương mẫu, cho thấy rằng trinh khiết có thể là một cách diễn tả ý nghĩa hợp hôn của thân xác. Tình yêu của Người dành cho Hiền Thê là Hội Thánh vang vọng qua lịch sử ở mỗi Thánh Lễ: “Này là Mình Thầy, bị nộp / hiến dâng vì anh em.” Sự tự hiến hoàn toàn này cũng được thực hiện nơi những nam nữ tận hiến đời mình để phục vụ Hội Thánh. Như có một phụ nữ đã thốt lên với một nhóm nữ tu: “Chị em phải dâng cả đời mình đi, như người ta tung một đoá hoa vậy.”231

Chính vì ý nghĩa hợp hôn của thân xác, theo một cách nào đó, mọi người nam đều được mời gọi làm cha, và mọi người nữ đều được mời gọi làm mẹ. Ơn gọi này được ghi khắc trong chính thân xác họ. Gioan Phaolô giải thích: thân xác của người nam mang ý nghĩa phụ tử, còn “mầu nhiệm nữ tính được mạc khải và biểu lộ ra hoàn toàn nhờ mẫu tính (nghĩa là tính chất người nữ được làm mẹ).” 232
Vậy làm sao điều này được nên trọn khi một người chọn sống khiết tịnh? Sống khiết tịnh vì Nước Trời cũng là một hành vi tình yêu phu thê, và vì thế cũng là một tình yêu sinh hoa kết quả: nó được quy hướng về thiên chức làm cha và làm mẹ.233 Khi nam nữ chọn ơn gọi khiết tịnh, họ không chối bỏ ước muốn tự nhiên trở thành cha mẹ. Trái lại, họ đang thực hiện ơn gọi ấy theo một cách khác.

Hoa trái thể lý của vợ chồng chính là dấu chỉ của hoa trái thiêng liêng nơi những ai chọn sống khiết tịnh vì Nước Trời. Khi một người phụ nữ bước vào đời sống tu trì, chị diễn tả ơn gọi hiến thân của mình theo cách đặc thù của phái nữ. Như nơi Đức Trinh Nữ Maria—mẫu gương của sự đồng trinh phong nhiêu—sự đồng trinh nở hoa trong thiên chức làm mẹ thiêng liêng. Tương tự, một người nam bước vào chức linh mục không từ bỏ nam tính của mình khi vào chủng viện. Ngược lại, anh được mời gọi hiến dâng mạng sống mình cho Hiền Thê là Hội Thánh, như thánh Phaolô đã thách đố mọi người chồng: “Hỡi chồng, hãy yêu thương vợ như chính Đức Kitô đã yêu thương Hội Thánh” (Ep 5). Sự đóng góp của linh mục cho Hội Thánh vừa mang tính nam giới, vừa mang tính phụ tử. Vì thế mọi linh mục được gọi là “Cha.”

Khiết tịnh vì Nước Trời luôn là một dấu chỉ gây ngỡ ngàng, nhưng không bao giờ là sự chối bỏ giới tính nam nữ, cũng chẳng phải là sự hạ giá hôn nhân. Trái lại, việc từ bỏ hôn nhân chính là một sự khẳng định giá trị của nó. Thí dụ, chẳng ai từ bỏ ăn đất bùn vào Mùa Chay. Giá trị của một hy sinh được đo bằng chính điều được hiến dâng. Để thực sự ý thức được điều mình chọn, con người cũng phải ý thức được điều mình từ bỏ.234

Tuy nhiên, sống khiết tịnh không chỉ là một hy lễ mà con người dâng lên Thiên Chúa, nhưng còn là một hồng ân Thiên Chúa trao ban cho họ.235 Khi trả lời cho nhóm Xa-đốc, Đức Giêsu nói: “Khi từ cõi chết sống lại, người ta sẽ không lấy vợ lấy chồng” (Mc 12:25). Qua lời này, Ngài cho thấy có một trạng thái sống nơi mà hôn nhân không còn tồn tại, nơi con người – cả nam lẫn nữ – sẽ sống trong hiệp thông với Thiên Chúa và với nhau. Những ai đón nhận lời mời gọi sống khiết tịnh vì Nước Trời đang tiên nếm, ngay trong đời này, điều mà con người sẽ được hưởng trong cuộc phục sinh mai sau.

Bằng cách từ bỏ dấu chỉ trần thế của sự hiệp nhất viên mãn trong Nước Trời, là lý do ta được tạo dựng, người sống khiết tịnh trở thành chứng tá hữu hình cho thế giới rằng ta không được dừng lại ở dấu chỉ. Bằng việc hiến dâng trọn vẹn đời mình cho Thiên Chúa trong đời này, họ trở thành biểu tượng của sự sống mai sau. Khi làm vậy, họ không hề khuyên chúng ta khước từ giới tính, nhưng nhắc nhở chúng ta về cùng đích và ý nghĩa tối hậu của nó! Khiết tịnh vì Nước Trời là một dấu chỉ cho thấy thân xác được hướng về vinh quang. Chính vì vậy, tính bí tích của hôn nhân chỉ có thể được hiểu đúng khi đặt trong ánh sáng của ý nghĩa đích thực của khiết tịnh, và khiết tịnh cũng chỉ có thể được hiểu trọn vẹn trong ánh sáng của hôn nhân.236 Bởi vì cả hai ơn gọi được liên kết mật thiết, bất cứ nền văn hoá nào không coi trọng bậc sống này thì cũng sẽ không thể coi trọng bậc sống kia.

230 TOB 74:4.
231 As quoted in Jean-Pierre Batut, “The Chastity of Jesus and the ‘Refusal to Grasp,’” Communio (International Catholic Review) 24 (Spring 1997): 13.
232 TOB 21:2.
233 Cf. TOB 80:1; 78:5.
234 Cf. TOB 81:2.
235 Cf. TOB 73.
236 Cf. TOB 76:6.

Độc Thân Trinh Khiết Vì Nước Trời
Check Also
Next Post

0Nhận xét

Link copied successfully